Thay đổi nhận thức và hành động về bình đẳng giới

09:08:45 18/10/2019

Ngày 17/10/2019, tại Hà Nội, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã tổ chức Hội nghị Tổng kết 10 năm thi hành Luật Bình đẳng giới và Lễ ký kết Chương trình phối hợp công tác giữa Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) và Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (LHPNVN). Bộ trưởng Bộ LĐTBXH Đào Ngọc Dung và Chủ tịch Hội LHPNVN Nguyễn Thị Thu Hà chủ trì Hội nghị.



Luật Bình đẳng giới đã từng bước đi vào cuộc sống

Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật Bình đẳng giới, Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Nguyễn Thị Hà cho biết, Luật Bình đẳng giới được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2006 và có hiệu thực thi hành từ ngày 1/7/2007. Trong 10 năm qua, Luật Bình đẳng giới đã được triển khai thực hiện sâu rộng, góp phần đảm bảo thi hành tốt quyền con người, quyền công dân, đảm bảo an sinh xã hội và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Đặc biệt, công tác bình đẳng giới trong 8 lĩnh vực quy định tại Luật Bình đẳng giới đã có những tiến bộ rõ nét.



Bộ trưởng Đào Ngọc Dung đánh giá cao các kết quả đạt được sau 10 năm thi hành Luật Bình đẳng giới

Trong lĩnh vực chính trị, tỷ lệ nữ tham gia chính trị tại tất cả các cấp đã có chuyển biến tích cực. Tỷ lệ nữ Ủy viên Bộ Chính trị và Ủy viên BCH Trung ương Đảng tăng trong 3 nhiệm kỳ liên tiếp. Việt Nam đã lần đầu tiên có nữ Chủ tịch Quốc hội và 3 nữ Ủy viên Bộ Chính trị. Tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội đạt 27,1%, cao hơn mức trung bình 23,4% toàn cầu và 18,6% của châu Á. Tính đến 2017, đã có 13/30 bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và 16/63 tỉnh, thành phố có nữ lãnh đạo chủ chốt.

Về lĩnh vực kinh tế - lao động, tỷ lệ doanh nghiệp do nữ làm chủ tăng từ 4% năm 2009 lên 27,8% năm 2017, cao nhất Đông Nam Á, đứng thứ 19/54 trong bảng chỉ số xếp hạng Chỉ số nữ doanh nhân và thứ 7/54 trong số các nước có nhiều chủ doanh nghiệp là nữ. Tỷ lệ nữ tham gia thị trường lao động luôn giữ ở mức ổn định, từ 48% đến 48,5%. Từ năm 2011, mỗi năm có khoảng 80 - 100 nghìn lao động Việt Nam được đưa đi làm việc ở nước ngoài, trong đó nữ chiếm từ 35-40%.

Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam Nguyễn Thị Thu Hà phát biểu tại Hội nghị.  

Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, tỷ lệ học sinh nữ ở cấp tiểu học và trung học cơ sở đạt 47 - 48%; tại cấp trung học phổ thông tăng khoảng 3% trong 10 năm qua. Giai đoạn 2007 - 2015, tỷ lệ sinh viên nữ tăng 8,71% so với nam.

Lĩnh vực khoa học và công nghệ, số lượng nhà khoa học nữ chiếm tỷ lệ cao và tăng dần, từ 41% (năm 2011) lên 44,8% (năm 2015). Nhiều người đã được tôn vinh, được nhận các giải thưởng trong và ngoài nước. Giai đoạn 2007 - 2016, số lượng nữ Giáo sư, Phó giáo sư đã tăng từ 447 người lên 710 người.

Trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, hoạt động nâng cao năng lực về bình đẳng giới cho các cơ quan thông tin đại chúng được đã được tăng cường. Các vận động viên nữ và nam đã có nhiều cống hiến và đóng góp vào thành công chung của nền thể thao. Giai đoạn 2012 - 2016, tỷ lệ huy chương do vận động viên nữ đạt được tại các giải đấu quốc tế, khu vực chiếm 48,7%.

Trong lĩnh vực y tế, các kết quả về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2007 - 2016 đều có sự chuyển biến rõ rệt. Tỷ lệ phụ nữ được cán bộ y tế chăm sóc khi sinh đạt 98,2% (tăng 3,9%), tỷ lệ bà mẹ được khám sau sinh tại nhà đạt 94,1% (tăng 6,6%).

Trong lĩnh vực gia đình, việc thực hiện Luật Bình đẳng giới, các quy định về bình đẳng giới đã được lồng ghép trong các luật chuyên ngành, cụ thể như: Luật Đất đai 2013, Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007, Luật Trẻ em năm 2016...