Sinh con từ phương pháp thụ tinh nhân tạo

08:14:03 08/01/2019

Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có tỷ lệ thụ tinh nhân tạo (IUI) thành công ở mức cao trên thế giới. Vậy vợ chồng hiếm muộn, trong trường hợp nào phải cần đến phương pháp thụ tinh nhân tạo, và kỹ thuật này được thực hiện ra sao?



 

     

Ảnh minh họa

Trường hợp áp dụng IUI

Vợ chồng chị Hạnh Nguyên ở Phú Xuyên (Hà Nội), sau hơn hai năm kết hôn, không dùng biện pháp tránh thai nào song vẫn chưa có con. Mòn mỏi chờ đợi, vợ chồng chị quyết định đến bệnh viện khám. Bác sĩ cho biết, chị có bất thường ở cổ tử cung, trong khi chồng chị bị dị tật ống dẫn tinh bẩm sinh nên không thể có con theo cách tự nhiên được. Sau khi làm các xét nghiệm, các bác sĩ đã tư vấn cho vợ chồng chị nên làm thụ tinh nhân tạo ngay. Bởi nếu để qua thời điểm “vàng” này, hiệu quả điều trị sẽ rất thấp.

Sau thời gian tiến hành các bước cần thiết cho việc thụ tinh nhân tạo, chị Hạnh Nguyên đã đậu thai và sức khỏe rất tốt. Bà mẹ trẻ hạ sinh được bé gái mụ mẫm đáng yêu. “Giờ được làm cha làm mẹ, vợ chồng tôi thấy vô cùng hạnh phúc”, đôi mắt ngấn lệ, chị bộc bạch.

Thạc sĩ, bác sĩ Lê Thị Thu Hiền, Phó giám đốc Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội, người trực tiếp điều trị cho chị Hạnh Nguyên cho biết, thụ tinh nhân tạo là phương pháp điều trị, bác sĩ sẽ bơm trực tiếp tinh trùng vào tử cung của người phụ nữ giúp thụ thai dễ dàng. Phương pháp này còn được gọi là bơm tinh trùng vào buồng tử cung (intrauterine insemination - IUI). IUI là phương pháp hỗ trợ sinh sản xuất hiện sớm nhất với mục đích giúp tinh trùng rút ngắn quãng đường gian nan tìm đến với trứng ở tử cung để thụ tinh.

Thụ tinh nhân tạo (bơm tinh trùng) thường được áp dụng trong các trường hợp sau: Sau giao hợp tinh trùng không đi qua cổ tử cung được (thường do bất thường ở cổ tử cung); Hiếm muộn không rõ nguyên nhân; Vợ chồng không thể giao hợp bình thường được, và có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau. Với phụ nữ tìm đến phương pháp thụ tinh nhân tạo khi họ khó thụ thai, hay cảm thấy khó có thể quan hệ tình dục qua đường âm đạo, ví dụ như những người hay gặp phải vấn đề về tâm lý tình dục. Tuy nhiên, đến với phương pháp IUI này họ có cơ hội sinh con. “Gần đây, Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội đã triển khai nhiều kỹ thuật mới và trang thiết bị hiện đại trong chẩn đoán, điều trị vô sinh, hiếm muộn, trong đó phương pháp kích thích rụng trứng bằng phác đồ chuẩn, thụ thai nhân tạo (IUI) bằng tinh trùng của chồng, hoặc từ ngân hàng tinh trùng với chất lượng cao nhất, mang lại niềm vui có con cho các cặp vợ chồng hiếm muộn” Ths, BS Lê Thị Thu Hiền nói.

IUI được thực hiện như thế nào?

Theo Ths, BS Lê Thị Thu Hiền, trước khi thực hiện IUI, bác sĩ sẽ làm một số xét nghiệm để xác định nguyên nhân gây nên sự hiếm muộn và xem phương pháp này có phù hợp với cơ địa của cặp vợ chồng đó hay không. Đối với những người phụ nữ cần đến thụ tinh nhân tạo, vòi trứng của người đó phải được mở và hoàn toàn bình thường, vì đó là nơi tinh trùng sẽ thụ tinh với trứng và tạo thành phôi di chuyển đến tử cung. Bác sĩ sẽ dùng một trong ba phương pháp nội soi ổ bụng, x-quang tử cung vòi trứng có cản quang và siêu âm buồng tử cung - vòi trứng qua đường âm đạo có sử dụng chất cản âm HyCoSy để kiểm tra vòi trứng của người vợ.

Để tối ưu hóa khả năng thành công, một chu trình thụ tinh nhân tạo sẽ được thực hiện ngay sau thời điểm rụng trứng, hầu hết phụ nữ rụng trứng sau 12-16 ngày từ lần có kinh cuối cùng. Người vợ cũng có thể sử dụng bộ dụng cụ dự đoán ngày rụng trứng (OPK) để biết chính xác hơn thời điểm rụng trứng. OPK có thể đo lượng hormone được giải phóng trong nước tiểu, hoặc nước bọt khi đến thời điểm rụng trứng. Hoặc người vợ cũng có thể làm xét nghiệm máu để xác định thời điểm rụng trứng. Bác sĩ có thể sẽ dùng thuốc kích thích rụng trứng để giúp người vợ đẩy nhanh thời gian chờ hơn. Trong nhiều trường hợp, bác sĩ sẽ sử dụng phương pháp siêu âm đầu dò âm đạo để có thể theo dõi sự phát triển của trứng, ngay khi trứng trưởng thành, người vợ sẽ được tiêm một loại hormone để kích thích phóng trứng.
 
Cũng theo các chuyên gia sinh sản, độ tuổi của người phụ nữ có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ thành công của phương pháp thụ tinh nhân tạo. Cụ thể là thụ tinh nhân tạo và phôi thai, tỷ lệ thành công sẽ là: 8% nếu người nữ dưới 35 tuổi; 7% nếu người nữ từ 40-42 tuổi; 2% nếu người nữ từ 43-44 tuổi… Không chỉ phụ thuộc vào tuổi của người nữ, cơ hội thành công cũng bị ảnh hưởng bởi số lượng và chất lượng tinh trùng của nam giới. Ngoài ra, tỷ lệ thụ thai còn ảnh hưởng bởi công nghệ và sự chẩn đoán thời gian rụng trứng có chính xác không. Ưu điểm của phương pháp thụ tinh nhân tạo là kỹ thuật đơn giản, giá thành rẻ, tuy nhiên còn tùy thuộc vào chỉ định của bác sĩ đối với từng trường hợp cụ thể. 

Hoàng Nam/GĐTE


 

 

To Top
Mọi hành động sử dụng nội dung đăng tải trên Trang điện tử http://www.giadinhvatreem.vn/ phải được sự đồng ý bằng văn bản của Tạp chí Gia đình và trẻ em.