Thách thức trong công tác giảm nghèo đa chiều và một số kiến nghị

10:23:34 06/12/2018

Từ năm 2016 đến nay, thực hiện việc chuyển đổi phương pháp đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều, công tác giảm nghèo bền vững ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Mặc dù vậy, việc chuyển đổi này cũng còn gặp phải không ít thách thức.



 
Nhiều kết quả tích cực
 
Bước vào giai đoạn 2016-2020, Bộ LĐTBXH đã chủ động nghiên cứu, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể chuyển đổi phương pháp đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 và ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020; ban hành quy trình hướng dẫn điều tra, rà soát hộ nghèo theo tiêu chí tiếp cận đa chiều, trên cơ sở đó, các địa phương tổ chức điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo trên phạm vi địa bàn. 
 
Kết quả Tổng điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều cho thấy, đến cuối năm 2015, cả nước có 2.338.569 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 9,88% và 1.235.784 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 5,22%; tỷ lệ hộ nghèo bình quân tăng lên hơn 2 lần so với tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015 (9,88% so với 4,25%); một số địa phương có tỷ lệ hộ nghèo rất cao (Điện Biên: 48,14%, Hà Giang: 43,65%, Bắc Kạn: 29,4%). Đến cuối năm 2017, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều đã  giảm xuống còn  6,9%.
 
Việc áp dụng chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều tại các địa phương bước đầu đã giúp xác định mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản, qua đó phản ánh toàn diện hơn tình trạng nghèo tại các địa bàn, vùng miền, khắc phục được hạn chế của phương pháp đo nghèo đơn chiều chỉ sử dụng tiêu chí thu nhập trước đây, có ý nghĩa quan trọng trong phân loại, quản lý đối tượng thụ hưởng chính sách an sinh xã hội để thiết kế chính sách phù hợp. Một số tỉnh, thành phố như TP.HCM, Bình Dương đã tích cực, chủ động xây dựng chuẩn nghèo riêng theo phương pháp tiếp cận đa chiều của quốc gia nhưng bổ sung thêm một số tiêu chí (Chuẩn nghèo đa chiều của TP.HCM có tiêu chí thu nhập gần gấp đôi tiêu chí thu nhập ở khu vực thành thị của chuẩn nghèo quốc gia; đồng thời bổ sung thêm 1 chỉ số về trình độ nghề và 2 chỉ số về việc làm và BHXH. Tỉnh Bình Dương tăng chuẩn nghèo về tiêu chí thu nhập).
 

Việc đo lường tỷ lệ hộ nghèo theo phương pháp đa chiều đã không chỉ chỉ sử dụng tiêu chí thu nhập như trước đây trước đây. Ảnh minh họa
 
Những thách thức đặt ra
 
Mặc dù đã đạt những kết quả bước đầu, nhưng theo đánh giá của Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội, do việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 chậm nên việc hướng dẫn điều tra, xác định hộ nghèo chậm và yêu cầu triển khai gấp đã gây khó khăn cho địa phương vì công tác điều tra xác định hộ nghèo, cận nghèo theo tiêu chí mới. Chưa có sự tương thích giữa việc ban hành chuẩn nghèo đa chiều với việc điều chỉnh chính sách phù hợp với từng nhóm đối tượng, theo tình trạng thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản, theo địa bàn để đảm bảo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và lồng ghép chính sách và nguồn lực có hiệu quả. 
 
Bên cạnh đó, một số tiêu chí đánh giá/đo nghèo chưa phù hợp dẫn đến nhận diện, đánh giá tình trạng nghèo chưa thực sự chính xác. Cụ thể như: Về chỉ tiêu ước tính thu nhập của hộ: Chỉ tiêu tài sản chủ yếu chỉ tính cùng một điểm nếu hộ có từ 1 tài sản cùng loại trở lên (như xe máy, xe có động cơ), không tính điểm theo số lượng tài sản cũng như giá trị của tài sản nên bất hợp lý. Theo quy định, khu vực phường, thị trấn là khu vực thành thị, khi khảo sát xác định hộ nghèo (phiếu B) phải áp dụng theo phiếu quy định với khu vực thành thị. Tuy nhiên ở miền núi, khu vực thành thị có những thôn người dân chủ yếu thu nhập từ sản xuất nông nghiệp. Khi điều tra sử dụng phiếu B áp dụng đối với khu vực thành thị thì không tính điểm chỉ tiêu diện tích đất đai sản xuất và giá trị sản phẩm chăn nuôi, nên nhiều hộ mặc dù có nhiều gia súc, đất đai, sản phẩm nông nghiệp nhưng không sử dụng, mua sắm tài sản như máy điều hòa, máy giặt, lò vi sóng… nên không tính điểm. Do vậy, những hộ có nhiều sản phẩm chăn nuôi, trồng trọt có giá trị lớn nhưng điểm B1 thấp thì lại đưa vào hộ nghèo, gây ra sự mất công bằng.
 
Về chỉ tiêu các nhu cầu xã hội cơ bản: Đối với chỉ tiêu giáo dục, chưa tính đến chất lượng giáo dục của người dân và các trang thiết bị, điều kiện dạy và học để đánh giá. Đối với chỉ tiêu y tế, chưa phản ánh chất lượng cung cấp dịch vụ y tế (được bác sĩ khám chữa bệnh tại tuyến xã, trang thiết bị y tế khi người dân tham gia khám chữa bệnh…). Về chỉ tiêu hộ gia đình không được tiếp cận nước hợp vệ sinh, một số địa phương tuy được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh nhưng không đủ sử dụng cho nhu cầu sinh hoạt 12 tháng, chưa được hướng dẫn tính là thiếu hụt.

Cần nghiên cứu, đề xuất cụ thể tiêu chí về các nhu cầu dịch vụ xã hội cơ bản trong đo lường nghèo đa chiều,
nhất là về nhu cầu giáo dục
 
 Một số kiến nghị
 
Từ thực tiễn nêu trên, để phát huy hiệu quả của phương pháp giảm nghèo theo hướng đa chiều, cần tiếp tục rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tích hợp chính sách, giảm đầu mối văn bản về giảm nghèo theo hướng tập trung chính sách, nguồn lực, tăng khả năng tiếp cận chính sách của hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo; nghiên cứu, đề xuất cụ thể tiêu chí về các nhu cầu dịch vụ xã hội cơ bản, xây dựng chuẩn mức sống tối thiểu, chuẩn nghèo chính sách, chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ chưa tiếp cận đầy đủ dịch vụ xã hội theo cách tiếp cận nghèo đa chiều; sớm ban hành các chính sách phù hợp với các đối tượng nghèo đa chiều theo các chiều thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản và định hướng chính sách phù hợp theo từng khu vực.
 
Bên cạnh đó, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện tiêu chí phân loại và quy trình xác định đối tượng, địa bàn nghèo có tính đến đặc thù vùng, miền, đảm bảo đo lường chính xác tình trạng nghèo; mở rộng việc phân cấp cho địa phương để giải quyết các ưu tiên giảm nghèo đa chiều, nhân rộng mô hình giảm nghèo... phù hợp với đặc điểm của các địa phương. 
 

 


Minh Anh/GĐTE


 

 

To Top
Mọi hành động sử dụng nội dung đăng tải trên Trang điện tử http://www.giadinhvatreem.vn/ phải được sự đồng ý bằng văn bản của Tạp chí Gia đình và trẻ em.