Rơm

11:59:47 19/06/2019

Tháng 5, đồng thơm mùi lúa, làng thơm mùi rơm. Lúa từ đồng theo chân người về làng kĩu kịt. Mồ hôi thấm ướt áo người mà việc nhà, việc đồng vẫn ngồn ngộn, những rơm, thóc, nong nia, tướp trấu…



 
Nắng tháng 5 mệt, nhưng ai cũng mong nắng. Có nắng gặt nhàn, gặt xong, thóc như đã phơi được một nắng. Nhiều nhà quây cót tuốt ngoài đồng, thóc đem về phơi trong làng, rơm phơi luôn ngoài ruộng, nếu chân ruộng khô. Nhưng nhiều người kén cả sân phơi rơm, nên dù có tuốt lúa ngoài đồng thì vẫn mang rơm về trong làng phơi. Làng mùa tháng 5 vàng ruộm. Thóc rải trên sân, chi chít hạt vàng chen nhau hứng nắng. Sân gạch nóng hầm hập, người “đi thóc’’ đội nón đi chầm chậm, thóc vàng như nước chảy chậm dưới chân. Rõ là đảo đi, đảo lại, mà rõ khéo, chả có hạt nào già nắng, hạt nào non nắng cả. Tắt nắng là chang thóc vào thành đống, lo rê, lo quạt, để cho nguội là đóng cót được rồi. Có thể nói là yên tâm, nhưng mà chưa hết việc. Còn rơm nguyên lượm, nếu không phơi nhanh, gặp mưa mốc mủn, sau phơi lại, có khô đun cũng khói mù. Vì thế, rơm cũng phải phơi ngay. Nhiều người chờ không được, phơi cả lên rặng rào. Tuy không được nhanh khô như trên sân gạch nhưng rặng ô rô, rặng duối leo, đầy rơm tãi lên đấy cũng được cả đống. Cứ tay liềm cắt buộc, tay tung khắp rặng, chẳng sợi nào lọt xuống được. Mùa màng là phải tranh thủ. Rồi những ven đường, vệ cỏ, rơm cũng phơi đầy. Được cái nắng tháng 5, cơn gió cũng nóng, rơm phơi ngày một, ngày hai, chịu khỏ gẩy, đến ngày ba đã có thể nói là nỏ. Chiếc gậy gẩy rơm mòn đầu cũng là lẽ đó. Luồn xuống lớp rơm mỏng, lật lên theo mảng, vừa nhanh, đều lại không sót. Ai mà không biết gẩy rơm thì có mà đánh vật không xong, dẫu có là phơi trên sân kho hợp tác. 
Ngày mùa, cũng nhiều nhà làm rơm lượm. Thường thì người ta chọn rơm nếp để làm lượm. Gọi là lượm rơm là vì, nguyên lượm lúa kia, đập hay tuốt lấy thóc xong thì túm phần bông lúa, tay liềm thoăn thoắt bổ dọc xuống phần gốc, lược bỏ hết phần lá, lượm rơm trên tay chỉ còn mỗi lõi rơm bọc đôi ba lá lúa. Lượm rơm này dựng chõe chân, phơi riêng. Nhiều việc dùng đến rơm lượm này lắm. Ví như hái ruộng rau, chỉ dấp nước mang ra ruộng, hái xong, đôi sợi rơm là bó được bó rau. Gánh rau nặng, mà chưa hết lượm rơm. Vừa là tiện dụng, vừa đỡ công mua giang, chẻ lạt. Rơm ấy gác bếp, lúc nông nhàn đem vặn chổi, chổi lúa, vặn chặt tay, quét cả năm chưa cùn. Nhiều người không thích đằng chổi đót, cứ phải kén bằng được chổi rơm nếp ở chợ phiên, tay khéo vặn mới mua.
 
Xưa, rơm còn lót ổ cho ấm. Rơm bện xung quanh, rơm xếp lớp dưới chiếu, mùa đông lạnh, ổ rơm cũng khiến bao nhà bớt sợ gió rít ngoài kia. Cũng rơm ấy, cho gà mẹ ấp con đến nứt vỏ trứng. Gà đi ăn cả ngày, tối vẫn tìm về với mẹ và ổ rơm quen thuộc. Ôm rơm chặt tay vừa ủ ấm trâu, bò, lợn, vừa là thức ăn cho trâu những ngày đông giá lạnh, sương muối giăng đầy. Nhìn thấy rơm là con trâu đung đưa cặp sừng, hướng về ôm rơm chủ đưa đến. Cả một mùa Đông, từ nhà xuống bếp, ra đến góc vườn, trâu nghé buộc, mùi rơm lẩn quất thơm và ấm, một mùi hương thật đặc biệt, theo con người ta suốt những tháng ngày. 
 
 
Cho mãi đến sau này, làng không còn cây rơm, có lượm rơm trên nóc, cao hết ngọn tre, rút đỏ tay mới được bữa nấu cơm nữa. Bếp ga đã thay chỗ cho ông đầu rau, cây rơm vắng bóng trong làng là thế. Nhiều nhà phơi và đốt rơm luôn ngoài cánh đồng cho tốt đất… Ấy vậy, khi thấy rơm, thấy mùi rơm vẫn khiến bao người nao nao nhớ. Nhớ cây rơm góc sân hay đầu ngõ, mẹ mặc áo nâu sòng đẫm mồ hôi, rút cây rơm trơ lõi nấu cơm ngày giáp hạt. Nhớ những ngày ăn tươi, có cá thui rơm, hay chân giò thui nấu giả cầy. Ôm rơm ra góc vườn, bắc hai hòn gạch gác cá lên xong nổi lửa. Cá cháy xém vây, xém vẩy, trẻ con háo hức chờ mâm bát như có cỗ. Cái chân giò thì phải thui lâu, thui cho bong móng xong mới thui dần cho xém bì. Bì khô, rồi bì ấy mới bắt lửa vàng đều. Phải khéo lật giở móng, khéo điều chỉnh lửa không rất dễ bị cháy đen mà không được vàng đều. Mới đốt rơm xong, cái móng ngoài cháy khét, đã thấy mùi giả cầy ngay. Thêm nữa, giềng mẻ giã kì cạnh trong sân thì rõ là có món ngon đến nơi. Sắc màu rơm đem đến, hương vị rơm in đậm trong nồi giả cầy sôi sục khiến người ta nhớ, mà sau này kiếm tìm lại không hề dễ dàng. Chả thế mà các cụ nói “miếng ngon nhớ lâu’’ cấm có sai bao giờ…
 
Năm tháng đi qua, để nhớ, thấy rơm là kí ức trở về. Đó là những ngày xưa mong đến rét để làm ổ rơm mới, phồng cả chiếu, lăn mãi để rơm ấy bẹp dí, đôi sợi vương xuống nền nhà. Rồi khi có nắng mới, ấm lên, bỏ ổ rơm đi. Nhớ bà dặn bỏ rơm ấy, không đem vào bếp đun cơm nữa. Nhớ cả những đống rơm mùn, nấm mọc đầy khi mùa mưa bụi, rút rơm ẩm vào nấu cơm khói mù…
 
Giờ, làng chẳng ai còn nằm ổ rơm, nhà cũng chẳng ai lợp giạ. Đôi làng xa gần còn người phơi rơm để bán cho người làng xa, xã khác. Những con đường rơm, những rơm lượm trên ngõ làng khiến khách phương xa thấy phải chụp kiểu ảnh đem về. Người ta nhớ hay nói về rơm cùng với những hoài niệm về thủa xa lắc. Có niềm vui trong trẻo thủa hoa niên, cũng có những giọt nước mắt khi nhớ lại những nhọc nhằn đã trải.
Rơm khiến mùa và nắng Hạ thực sự là vàng thơm...

Nguyễn Minh Hoa/TC GĐ&TE


 

 

To Top
Mọi hành động sử dụng nội dung đăng tải trên Trang điện tử http://www.giadinhvatreem.vn/ phải được sự đồng ý bằng văn bản của Tạp chí Gia đình và trẻ em.